TỔ QUỐC

THỜI GIAN THẬT QUÝ GIÁ

Mùa xuân

Mai vàng

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Le Ky Nhan)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    DSC028181.jpg DSC02818.jpg DSC02873.jpg DSC02836.jpg DSC02603.jpg DSC02061.jpg DSCN1302.jpg DSC01794.jpg DSC014071.jpg DSC01407.jpg IMG_0331.jpg IMG_9833.jpg IMG_9816.jpg IMG_9817.jpg DSC00298.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    "

    Sắp xếp dữ liệu

    Chào mừng quý vị đến với website của TRƯỜNG THPT AN MỸ-BÌNH DƯƠNG

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Bài viết > Giới thiệu chung >

    LỊCH SỬ 50 NĂM TRƯỜNG THPT AN MỸ

    I.Giới thiệu khái quát về sự thành lập trường:

                Trước những năm 1930, làng An Mỹ chưa có trường học; muốn được học, con em dân làng phải đi bộ 6 cây số ra chợ Thủ mới có trường tiểu học. Nếu học lên Trung học thì phải về Sài Gòn mới có trường để học.

                Vào khoản năm 1934-1935, An Mỹ có được một trường làng. Năm 1943 có trường Tiểu học Phú Hữu (Cơ sở 1 ngày nay). Năm 1948, trường Tiểu học An Mỹ được xây dựng (Cơ sở 2 ngày nay).

                Luật sư Trần Văn Trai, người gốc làng An Mỹ, thấu hiểu nổi khó khăn vất vả của con em trong làng và nhiều thôn quê hẻo lánh khác. Ông quyết tâm xây dựng một trường Trung học tại quê nhà, tạo điều kiện cho con em trong làng được tiếp tục sự học để nâng cao dân trí, dân sinh sau này.

                Với tư cách là giáo sư dạy Pháp văn tại trường Trung học Mỹ Tho (từ năm 1935), Luật sư Trần Văn Trai hội đủ điều kiện để xin Bộ Giáo Dục cho phép mở tại An Mỹ một trường Trung học tư thục dạy từ lớp Đệ thất (lớp 6 ngày nay), đến lớp Đệ nhất (lớp 12 ngày nay).

                Được sự chấp thuận của Bộ Giáo Dục, Luật sư Trần Văn Trai đã nhờ kiến trúc sư Võ Văn Tần vẽ đồ án, và đặt thầu khoán Lý Thi (người Hoa ở Chợ Lớn) để xây trường. Luật sư Trần Văn Trai  đã chọn địa bàn xây dựng trường tại “Bàu Ông Đặng”, đất của Võ Văn Lộc.

                Lúc ấy nước mưa cả làng đều đổ vào bàu này; vùng trũng nước không canh tác được.Ông Võ Văn Lộc là chủ đất đã thuận bán đất này cho luật sư Trần Văn Trai xây trường (dân làng An Mỹ vẫn quen gọi là trường ông Trai).

                Trường được xây dựng từ năm 1958. Với một dãy chánh diện có 7 phòng.Một phòng Giám Hiệu và 6 phòng học.

    II.Quá trình phát triển của trường:

    1.Chặn đường 1958-1975:

                Năm học đầu tiên 1958-1959, trường còn mượn tạm cơ sở ở Tiểu học An Mỹ cho học sinh học tạm khoản 3 tháng, sau các em mới vào học ngôi trường mới.

                Hiệu trưởng đầu tiên là Luật sư Trần Văn Trai.

                Niên khóa đầu tiên, trường có hai lớp Đệ thất với khoản 100 học sinh. Giáo viên giảng dạy hầu hết được ông hợp đồng thỉnh giảng từ Sài Gòn lên như: Thầy Vũ Quý Phách, Thầy Chung Thanh, Thầy nguyên, Cô Hương, Thầy Vàng và một số thầy cô khác…Bản thân ông nhận dạy trực tiếp môn Pháp văn vào các ngày thứ sáu và thứ bảy hàng tuần.Học phí mỗi tháng khoản 60 đồng (bằng 50% học phí của các trường tư thục ngoài chợ Thủ).

                Năm 1959, trường Trung học An Mỹ trở thành trường công lập (là cơ sở 2 của trường Trung học Trịnh Hoài Đức) có một lớp Đệ thất với 61 học sinh (có danh sách học sinh khóa I kèm theo). Lúc đầu chỉ có 4 giáo sư về dạy: thầy Hiển, thầy Kiệt, cô Thịnh, cô Oanh…Hiệu trưởng là thầy Trương Văn Di.

                Năm học 1959-1960, 2 lớp Đệ thất nhập lại thành một lớp Đệ lục và tuyển mới 2 lớp Đệ thất.

                Năm học 1960-1961 có một lớp Đệ ngũ, hai lớp Đệ lục và hai lớp Đệ thất.

                Năm học 1961-1962 có 1 lớp Đệ tứ, 2 lớp Đệ ngũ, 2 lớp Đệ lục, 2 lớp Đệ thất.Cuối năm học, Lớp Đệ tứ đầu tiên của trường thi tốt nghiệp Trung học Đệ nhất cấp đậu 80%. Một số thi tuyển đậu vào trường Trịnh Hoài Đức học lớp Đệ tam (công lập).

                Đến năm học 1966-1967, trường Trung học công lập An Mỹ có đủ từ lớp Đệ thất đến lớp Đệ nhất (từ lớp 6 đến lớp 12).

                Năm 1968, do biến động Mậu Thân (1968), trường bị hư hại nhiều.

                 Năm học 1968-1969 và 1969-1970: học sinh An Mỹ phải dời ra học nhờ ở trường Tiểu học quận lỵ Châu Thành (Trường THCS Chu Văn An ngày nay); mượn thêm 4 phòng học ở trường Garden (Nay là trường Phú Thọ) cho khối lớp Đệ lục học.Các thầy cô giảng dạy là: Cô Oanh, Cô Vân, Cô Quế.

                Trong thời gian này nảy sinh vấn đề đấu tranh để chọn địa điểm xây trường rất gay gắt vì học sinh ngoài chợ vào An Mỹ học chiếm 2/3, học sinh An Mỹ, Phú Hữu, Phú Chánh chiếm 1/3.Dự kiến sẽ xây dựng trường mới ở ngoài Chợ Thủ.

                Luật sư Trần Văn Trai lúc bấy giờ với tư cách là người sáng lập trường, đồng thời là Hội Trưởng Hội Phụ Huynh học sinh;Ông đã tác động về Bộ Giáo dục và vận động các phụ huynh học sinh cho xây dựng lại trường, địa điểm vẫn đặt tại làng An Mỹ.Ban đại diện phụ huynh lúc này có các ông: Nguyễn Văn Thị (Năm Thị), Nguyễn Văn Cổm (Năm Cổm), Phan Văn Mòi (Năm Mòi), cùng tất cả phụ huynh đã biểu quyết thống nhất xin xây dựng lại trường Trung học công lập An Mỹ tại địa điểm cũ.Cuối cùng, Bộ Giáo dục đã chấp thuận cho xây dựng lại trường ở An Mỹ.

                Vào thời điểm đang xây dựng đình làng An Mỹ, do thầu khoán Lê Văn Thám (ông sáu Đúng) xây dựng.Luật sư Trần Văn Trai liền đặt ông Lê Văn Thám xây dựng lại trường mới.Có hai dãy mới hình chữ U, dãy chính diện có một lầu được tu bổ lại… .Mọi chi phí do Luật sư Trần Văn Trai tự đóng góp và vận động các phụ huynh, các ân nhân hỗ trợ.

                Năm học 1970-1971; các học sinh trở về học ngôi trường cũ của mình đã được xây dựng mới.

    Chiếc xe lam đưa rước học sinh(điểm rước tại nhà lầu Phú Cường và ngược lại).Sau tổ hợp xe lam góp tiền mua một chiếc xe bus để đưa đón học sinh đi về.

    2.Chặng đường 1976-1992:

    Từ năm 1976 đến năm 1992, Trường Trung học An Mỹ trở thành trường Cao đẳng sư phạm Sông Bé.Những học sinh phổ thông của trường phải ra học tại Trường Cấp III Thị xã Thủ Dầu Một.

    3.Chặng đường 1993-1999

    Năm 1993,Trường được giao lại để làm Trường Trung học cơ sở Phú Mỹ.

    Năm học 1993-1994,Trường có 10 lớp.Trong đó:Khối 6 có 3 lớp, Khối 7 có 3 lớp, Khối 8 có 2 lớp, Khối 9 có 2 lớp. Tổng cộng có: 362 học sinh.Tổng số CBGVNV là: 29 người.

    Năm học1994-1995, Trường có 12 lớp.Trong đó: Khối 6 có 4 lớp; Khối 7 có 3 lớp;Khối 8 có 3 lớp, Khối 9 có 2 lớp.Tổng cộng có 457 học sinh.Tổng số CBGVNV là:25 người.

    Năm học 1995-1996, Trường có 14 lớp.Trong đó: Khối 6 có 5 lớp; Khối 7 có 4lớp; Khối 8 có 3 lớp; Khối 9 có 2 lớp.Tổng cộng có 606 học sinh.Tổng số CBGVNV là: 34 người.

    Năm học 1996-1997, Trường có 17 lớp.Trong đó: Khối 6 có 5 lớp, Khối 7 có 5 lớp; Khối 8 có 4 lớp; Khối 9 có 3 lớp.Tổng cộng có 631 học sinh.Tổng số CBGVNV là: 34 người.

    Năm học 1997-1998, Trường có 18 lớp.Trong đó:Khối 6 có 5 lớp; Khối 7 có 5 lớp; Khối 8 có 5 lớp; Khối 9 có 3 lớp.Tổng cộng có 635 học sinh.Tổng số CBGVNV là:34 người.

    Năm học 1998-1999, Trường có 19 lớp. Trong đó: Khối 6 có 5 lớp; Khối 7 có 5 lớp; Khối 8 có 5 lớp; Khối 9 có 4 lớp.Tổng cộng có 659 học sinh.Tổng số CBGVNV là: 44 người.

    4.Chặng đường 1999-2008:

    Ngày 01 tháng 06 năm 1999, Ủy ban Nhân dân Tỉnh Bình Dương ra quyết định công nhận là trường Trung học phổ thông An Mỹ.

    Năm học 1999-2000, Trường có 23 lớp.Trong đó: Khối 6 có 4 lớp; Khối 7 có 4 lớp; Khối 8 có 4 lớp; Khối 9 có 4 lớp; Khối 10 có 7 lớp.Tổng cộng có 928 học sinh.Tổng số CBGVNV là:47 người.

    Năm học 2000-2001, Trường có 27 lớp.Trong đó: Khối 6 có 4 lớp; Khối 7 có 4 lớp; Khối 8 có 4 lớp; Khối 9 có 4 lớp; Khối 10 có 7 lớp; Khối 11 có 6 lớp.Tổng cộng có:1221 học sinh.Tổng số CBGVNV là: 61 người.

    Năm học 2001-2002, Trường có 37 lớp.Trong đó: Khối 6 có 5 lớp; Khối 7 có 4 lớp; Khối 8 có 4 lớp; Khối 9 có 4 lớp; Khối 10 có 7 lớp;Khối 11 có 7 lớp; Khối 12 có 6 lớp.Tổng cộng có :1454 học sinh.Tổng số CBGVNV là: 66 người.

    Năm học 2002-2003, Trường có 40 lớp.Trong đó: Khối 6 có 4 lớp; Khối 7 có 4 lớp; Khối 8 có 4 lớp; Khối 9 có 4 lớp; khối 10 có 9 lớp; Khối 11 có 8 lớp; Khối 12 có 7 lớp.Tổng cộng có 1302 học sinh.Tổng số CBGVNV là: 78 người.

    Năm học 2004-2005, Trường có 40 lớp.Trong đó: Khối 6 có 4 lớp; Khối 7 có 4 lớp; Khối 8 có 4 lớp; Khối 9 có 4 lớp; Khối 10 có 8 lớp; Khối 11 có 8 lớp; Khối 12 có 8 lớp.Tổng cộng có: 1605 học sinh.To63nf số CBGVNV là: 90 người.

    Năm học 2005-2006, Trường có 40 lớp.Trong đó bậc học THCS tổng số lớp có 16, bậc học THPH tổng số lớp có 24 lớp.Số học sinh của Khối 6, Khối 7, Khối 8, Khối 9 là: 599 học sinh; Khối 10, Khối 11, Khối 12 là: 962 học sinh.Tổng số có 1561 học sinh. Tổng số CBGVNV là: 92 người.

    Năm học 2006-2007, Trường có 40 lớp.Trong đó: Khối 6 có 4 lớp; Khối 7 có 4 lớp; Khối 8 có 4 lớp; Khối 9 có 4 lớp; Khối 10 có 8 lớp; Khối 11 có 8 lớp; Khối 12 có 8 lớp.Tổng cộng có 1631 học sinh.Tổng số CBGVNV là: 92 người.

    Năm học 2007-2008.Trong đó: Khối 6 có 4 lớp; Khối 7 có 4 lớp; Khối 8 có 4 lớp; Khối 9 có 4 lớp; Khối 10 có 8 lớp; Khối 11 có 8 lớp; Khối 12 có 8 lớp.Tổng cộng có: 1642 học sinh.Tổng số CBGVNV là: 101 người.

    III.Danh sách các Thầy, Cô là Hiệu trưởng  của trường qua các giai đoạn:

    Năm học 1959-1962:Thầy Trương Văn Di. (Hiệu trưởng trường THCL Trịnh Hoài Đức và chi nhánh An Mỹ).

    Năm học 1962-1973: Thầy Bùi Ngọc Ẩn.

    Năm học 1973-1974: Thầy Nguyễn Như Thủy.

    Năm học 1974-1975: Thầy Nguyễn Cộng Hòa.

    Năm học 1975-1976: Thầy Phan Văn Bảy.

    Năm học 1977-1980: Thầy Nguyễn Văn Tám.

     Năm học 1980-1982: Thầy Lê Văn Dậm.

     Năm học 1982- 1983; Thầy Nguyễn Xuân Thưởng (đã mất).

    Năm học 1983-1984: Thầy Dương Khánh Hòa.

     Năm học 1984-1987: Thầy Trần Mậu Thành.

     Năm học 1987-2006: Cô Nguyễn Thị Tuyết.

     Năm học 2006-2009: Thầy Trần Đình Hàng.

     Năm học 2009- nay: Cô Nguyễn Thị Tuyết.

    IV.Danh sách Thầy, Cô là Chủ tịch Công đoàn Trường:

    1. Cô Nguyễn Phi Oanh

    2. Thầy nông Ngọc Trọng

    V.Danh sách các Thầy, Cô là Bí thư Đoàn trường, Tổng Phụ trách Đội:

    1. Đoàn trường: Quyết định thành lập tháng 9 năm 1999

    -Đơn vị trường: đạt danh hiệu Trường TTXS: Tỉnh khen, Bộ GD&ĐT khen,Thủ tướng CP khen,Chủ tịch nước trao tặng Huân chương lao động hạng III,Trường chuẩn Quốc gia.

    -Công đoàn trường:  đạt danh hiệu CĐCS “Vững mạnh xuất sắc” LĐLĐ tỉnh khen, CĐGD Việt Nam khen,Trung Ương Đoàn Việt Nam khen.

    -Đoàn trường: đạt danh hiệu “Đoàn trường vững mạnh xuất sắc”: Thị đoàn khen, Tỉnh Đoàn khen, Trung ương Đoàn Việt Nam khen.

    -Liên đội trường: đạt danh hiệu Liên đội xuất sắc.

    -BĐD/PHHS: Trưởng Ban Đại diện PHHS được Bộ GD&ĐT trao tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp Giáo dục”.

     

                Kết luận:

                Năm mươi năm quá trình xây dựng và phát triển,Trường Trung học An Mỹ đã đào tạo nhiều thế hệ học sinh ưu tú góp phần xây dựng quê hương, đất nước; làm vẻ vang cho lịch sử, truyền thống nhà trường.Tất cả đã và đang làm việc, đóng góp trí tuệ và tình cảm của mình cho sự nghiệp phát triển của quê hương, đất nước.

                Tự hào về ngôi trường thân yêu,các thế hệ học sinh An Mỹ không quên công ơn người đã sáng lập ra Trường, các Thầy Cô đã dạy dỗ, dìu dắt các em.

                Tiếp bước truyền thống, thế hệ học sinh An Mỹ hôm nay nguyện sẽ phấn đấu nhiều hơn nữa trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện nhân cách.Tất cả tự hào mình đã được nuôi dưỡng, giáo dục trong chiếc nôi An Mỹ thân yêu.



    Nhắn tin cho tác giả
    Vũ Văn Quyết @ 18:08 02/10/2010
    Số lượt xem: 3448
    Số lượt thích: 1 người (hà nhung)
     
    Gửi ý kiến



    Tra theo từ điển:



    HAPPY NEW YEAR 2011

    HAPPY NEW YEAR 2011 ***TRƯỜNG THPT AN MỸ CHÚC QUÝ THẦY CÔ QUÝ KHÁCH AN BÌNH THỊNH VƯỢNG "http://d.violet.vn/uploads/resources/505/Chuc_mung_nam_moi5.swf" wmode="transparent" type="application/x-shockwave-flash" width= "480" height="150">

    Tham quan các vùng miền đất nước

    THAM QUAN NHÉ

    XEM ĐIỂM THI CĐ-ĐH 2009,2010(CẬP NHẬT LIÊN TỤC)

    Trở về đầu trang

    Click vào bông hoa